Các bài trước nói cách trữ từng nhóm. Bài này gom hết thành một bảng để dán vào cánh tủ, vì trong lúc nấu thì không ai đi tìm bài để đọc. Các con số dưới đây là mức thực tế cho bếp nhà ở khí hậu nóng ẩm, giả định tủ chạy đúng và đồ đã được sơ chế tử tế. Với mỗi nhóm có ba mốc: ngoài kệ, ngăn mát, ngăn đá.
Rau, củ và nấm
Rau lá mềm ở ngăn mát hai ngày. Cải ngọt, xà lách, rau thơm.
Rau lá cứng ở ngăn mát bốn ngày. Cải thảo, bắp cải cắt, cải bó xôi.
Bắp cải nguyên bắp thì hai tuần. Lá ngoài bảo vệ phần trong.
Cà rốt và củ cải ở ngăn mát hai tuần. Cắt bỏ lá trước khi trữ.
Khoai tây ngoài kệ một tháng. Chỗ tối, thoáng, không để trong tủ lạnh.
Hành tỏi ngoài kệ một tới hai tháng. Rổ hở, chỗ khô ráo.
Bí đỏ nguyên trái ngoài kệ một tháng. Cắt rồi thì ba ngày ở ngăn mát.
Nấm mỡ trong túi giấy bốn ngày. Túi giấy chứ không hộp nhựa.
Nấm rơm hai ngày. Nhóm nấm mềm nhất.
Nấm kim châm nguyên gói năm ngày. Mở gói rồi thì hai ngày.
Nấm khô trong lọ kín một năm. Gói hút ẩm và chỗ tối.
Rau đã rửa và làm ráo bốn ngày. Lót giấy trong hộp.
Rau đã luộc ở ngăn mát hai ngày. Không nên đông.
Giá đỗ là ngoại lệ ngắn nhất. Một tới hai ngày và gần như không trữ được, nên đây là nhóm nên mua đúng lượng cho một bữa.
Nhóm đạm chay
Đậu hũ tươi ngâm nước ba ngày. Đổi nước mỗi ngày.
Đậu hũ non hai ngày. Mềm hơn nên hỏng nhanh hơn.
Đậu hũ chiên sơ bốn ngày. Lớp vỏ chiên chặn nước.
Đậu hũ đông lạnh ba tháng. Kết cấu thành xốp, hợp món kho.
Mì căn tươi ba ngày. Ngâm nước sạch như đậu hũ.
Chả chay thủ công hai ngày. Không có chất bảo quản.
Chả chay đóng gói theo hạn in. Mở rồi thì hai ngày.
Tàu hũ ky khô sáu tháng. Lọ kín, tuyệt đối khô.
Tàu hũ ky đã ngâm một ngày. Vắt ráo, hộp kín.
Đậu khô một tới hai năm. Càng cũ càng lâu mềm khi nấu.
Đậu đã luộc ba ngày ở ngăn mát. Hoặc ba tháng ở ngăn đá.
Hạt có dầu ba tới sáu tháng. Nên để tủ lạnh.
Hạt đã rang một tháng. Lọ kín, mất giòn nhanh hơn.
Nhóm này là nhóm ngắn hạn nhất và đắt nhất. Vì vậy nó đáng được xếp vào bữa sớm nhất trong tuần và đáng được ghi nhãn ngày kỹ hơn mọi nhóm khác.
Món đã nấu và nước dùng
Món kho ở ngăn mát ba ngày. Nước sốt che nguyên liệu.
Món kho rất mặn thì bốn ngày. Muối làm chậm quá trình.
Món canh ở ngăn mát hai ngày. Tách riêng nước và rau thì tốt hơn.
Món xào hai ngày. Nó mất giòn ngay ngày đầu.
Cơm một tới hai ngày. Làm nguội nhanh rồi trữ lạnh ngay.
Cơm đông lạnh một tháng. Hấp lại gần như về nguyên trạng.
Cháo hai ngày. Nó đặc lại nhiều.
Nước dùng ba ngày ở ngăn mát. Đun sôi lại trước khi dùng.
Nước dùng đông lạnh ba tháng. Chia phần hoặc đông thành viên.
Món kho đông lạnh ba tháng. Đây là nhóm đông tốt nhất.
Món chiên ở ngăn mát hai ngày. Hộp có lót giấy, nắp để hé.
Món có nước cốt dừa hai ngày. Nhóm này hỏng nhanh hơn.
Bánh hấp hai ngày. Hấp lại thì mềm trở lại.
Ba ngày là mốc chung dễ nhớ nhất. Gần như mọi món nấu trong bếp chay đều nằm trong khoảng hai tới ba ngày ở ngăn mát, nên nếu chỉ nhớ một con số thì nhớ ba ngày và đông phần nào sẽ để lâu hơn.
Đồ khô, gia vị và sốt
Gạo trắng trong lọ kín một năm. Chỗ mát, khô, tối.
Gạo lứt sáu tháng. Lớp cám có dầu nên hạn ngắn hơn.
Bột mì và bột gạo sáu tháng. Lọ kín và chống mọt.
Mì khô và bún khô một năm. Nhóm rất bền.
Gia vị nguyên hạt hai tới ba năm. Tiêu hạt, hồi, quế thanh.
Gia vị bột sáu tháng tới một năm. Kiểm bằng mùi chứ hạn in.
Lá thơm khô sáu tháng. Nhóm mất mùi nhanh nhất.
Nước tương mở nắp vài tháng. Để tủ lạnh giữ mùi lâu hơn.
Tương chay và tương hột thì trữ lạnh. Nhóm lên men cần lạnh sau khi mở.
Dầu ăn sáu tháng sau khi mở. Dầu mè và dầu hạt thì để lạnh.
Đồ hộp chưa mở theo hạn in. Mở rồi thì ba tới bốn ngày.
Sốt cà chua tự nấu một tuần. Lọ kín, múc bằng thìa sạch.
Sốt trộn tự pha năm tới bảy ngày. Nhóm có chanh và tỏi.
Dầu sả ớt và dầu hành phi một tháng. Dầu che nguyên liệu nên giữ lâu, nhưng phải đảm bảo phần sả và hành ngập hẳn trong dầu vì phần nhô lên là chỗ mốc trước.
Cách dùng bảng này
Viết lại ra giấy và dán cánh tủ. Đọc trong lúc nấu chứ không phải lúc rảnh.
Chỉ ghi nhóm nhà mình thật dùng. Bảng ngắn thì được đọc.
Ghi con số chứ đừng ghi giải thích. Một dòng một nhóm.
Coi các con số là mức tối đa. Không phải mức phải dùng hết.
Giảm một ngày nếu tủ hay mở. Nhà đông người thì tủ mở nhiều.
Giảm một ngày vào mùa nóng. Nhiệt phòng cao ảnh hưởng tới cả tủ.
Giảm nữa nếu tủ đã cũ. Đo bằng nhiệt kế để biết chắc.
Giác quan vẫn thắng bảng. Còn trong hạn mà có mùi lạ thì bỏ.
Bảng chỉ dùng để lên kế hoạch. Nó cho biết nên xếp món nào vào bữa nào.
Ghi nhãn ngày lên từng hộp. Bảng không có ích nếu không biết hộp nấu hôm nào.
Xem lại bảng sau vài tháng. Điều chỉnh theo thực tế nhà mình.
Dạy cả nhà đọc bảng. Nó chỉ hữu ích khi mọi người dùng.
Không tranh luận về con số. Chênh một ngày không quan trọng, ngờ thì bỏ.
Đây là thông tin chung cho bếp gia đình. Các con số trên là mức thực tế cho bếp nhà chứ không phải tiêu chuẩn y tế; nhà có trẻ nhỏ, người lớn tuổi, người mang thai hay đang bệnh thì nên lấy mức ngắn hơn, và có triệu chứng sau khi ăn thì đi khám bác sĩ.