Bếp chay dùng nhiều rau nên lượng vụn hữu cơ mỗi ngày khá lớn, và vụn rau lên men trong nửa ngày là đã có mùi. Nhưng mùi bếp hầu như không bao giờ đến từ khắp nơi — nó đến từ bốn chỗ cố định: sọt rác, bồn rửa và ống thoát, khăn lau, và thớt. Bài này đi qua bốn chỗ đó, nói việc hằng ngày cho mỗi chỗ, và cách tìm nguồn khi mùi vẫn còn.
Sọt rác và vụn rau
Vụn rau lên men trong nửa ngày. Đây là nguồn mùi số một trong bếp chay.
Đổ sọt mỗi ngày. Không đợi sọt đầy.
Đổ ngay sau khi sơ chế nhiều. Buổi sơ chế để lại rất nhiều vụn.
Dùng sọt có nắp. Nắp chặn mùi và chặn ruồi.
Lót túi và buộc miệng khi đổ. Đỡ bám vào thành sọt.
Rửa sọt mỗi tuần. Nước nóng và chút xà phòng.
Phơi sọt khô hẳn. Sọt ẩm là nguồn mùi mới.
Rắc chút bột nở vào đáy sọt. Nó hút mùi trong ngày.
Không để vụn rau ướt trong sọt. Vắt bớt nước trước khi bỏ.
Tách vụn ướt ra túi riêng nếu được. Buộc kín rồi bỏ.
Đặt sọt xa chỗ nấu. Và xa cửa sổ có nắng.
Không đặt sọt dưới bồn rửa. Chỗ đó ẩm nên mùi nặng hơn.
Bỏ vỏ trái cây ngọt ngay. Nhóm này lên men nhanh nhất.
Đổ sọt mỗi ngày giải quyết phần lớn mùi bếp. Trong bốn nguồn thì đây là nguồn mạnh nhất và cũng dễ xử lý nhất, nên nếu chỉ làm được một việc thì nên là việc này.
Bồn rửa và ống thoát
Vụn thức ăn trong lưới bồn là nguồn thứ hai. Nó đọng lại và lên men.
Nhặt lưới bồn mỗi lần rửa xong. Mười giây.
Rửa lưới bằng nước nóng. Vụn bám vào lưới rất dễ.
Xả nước nóng xuống ống mỗi tối. Nó đẩy lớp dầu bám đi.
Đổ bột nở rồi giấm mỗi tuần. Cách khử mùi ống rẻ và hiệu quả.
Xả nước nóng sau đó. Để đẩy hết xuống.
Không đổ dầu mỡ xuống bồn. Dầu nguội lại và bám trong ống.
Gom dầu thải vào lọ rồi bỏ. Đây là việc đáng làm.
Lau thành bồn mỗi tối. Vụn bám thành cũng sinh mùi.
Không để bát chồng trong bồn qua đêm. Nước đọng dưới bát là nguồn mùi.
Lau khô bồn sau khi rửa xong. Bồn khô thì ít mùi hơn hẳn.
Kiểm ống nếu mùi vẫn còn. Ống tắc một phần thì nước đọng lại.
Xả nước một lượt mạnh mỗi tuần. Để cuốn phần bám.
Bồn rửa là nguồn mùi khó thấy nhất. Nó trông sạch nên hay bị loại trừ khỏi danh sách nghi phạm, trong khi phần lớn mùi còn lại sau khi đã đổ rác đều đến từ lưới bồn hoặc từ ống thoát.
Khăn lau và miếng rửa
Khăn ẩm là nguồn thứ ba. Khăn ẩm để gập là môi trường rất tốt cho vi sinh.
Phơi khăn mở ra sau mỗi lần dùng. Không gập và không để trên mặt bàn.
Treo khăn lên móc. Để nó khô cả hai mặt.
Đổi khăn mỗi ngày. Khăn dùng cả tuần thì có mùi.
Giặt khăn bằng nước nóng. Nước lạnh không đủ.
Phơi khăn dưới nắng. Nắng khử mùi tốt hơn mọi cách.
Dùng khăn riêng cho từng việc. Khăn lau bàn, khăn lau tay, khăn làm ráo rau.
Không dùng khăn lau bếp để làm ráo rau. Đây là lỗi hay gặp.
Miếng rửa bát thì vắt khô và dựng đứng. Để nằm thì giữ nước.
Luộc miếng rửa mỗi tuần. Hoặc đổi cái mới.
Đổi miếng rửa mỗi hai tuần. Nó là đồ rẻ.
Miếng rửa có mùi thì bỏ ngay. Không cứu được.
Không dùng miếng rửa bát cho bồn cầu. Giữ dụng cụ riêng theo khu vực.
Nhóm khăn và miếng rửa là nguồn hay bị bỏ qua. Nó nhỏ nên không ai nghĩ tới, nhưng một cái khăn ẩm gập trên mặt bàn có thể làm cả gian bếp có mùi mà lau dọn bao nhiêu cũng không hết.
Thớt và dụng cụ gỗ
Thớt gỗ là nguồn thứ tư. Vết dao giữ vụn và giữ ẩm.
Rửa thớt ngay sau khi dùng. Đừng để vụn khô lại trong vết dao.
Chà bằng muối hạt nếu có mùi. Muối và nửa quả chanh.
Dựng thớt đứng cho khô. Để nằm thì mặt dưới không khô.
Phơi thớt dưới nắng mỗi tuần. Nắng khử mùi và diệt vi sinh.
Không ngâm thớt gỗ trong nước. Gỗ ngậm nước rồi nứt và mốc.
Không cho thớt gỗ vào máy rửa bát. Nhiệt và nước làm gỗ nứt.
Xoa dầu lên thớt gỗ mỗi tháng. Dầu ăn thường cũng được.
Đổi thớt khi vết dao quá sâu. Vết sâu không rửa được.
Dùng thớt riêng cho đồ đất và đồ ăn liền. Củ còn đất và rau ăn sống.
Muôi gỗ và đũa gỗ cùng cách. Rửa, dựng đứng, phơi nắng.
Bỏ đũa gỗ đã nứt. Nứt là chỗ giữ vi sinh.
Cối gỗ thì rửa và phơi kỹ. Nó hay giữ mùi tỏi và sả.
Đồ gỗ cần khô hơn đồ nhựa. Gỗ ngậm nước nên mọi việc giữ đồ gỗ đều quy về một điều là để nó khô hẳn giữa các lần dùng, và dựng đứng là cách đơn giản nhất.
Khi mùi vẫn còn
Tìm nguồn trước khi khử. Khử mà không tìm nguồn là làm lại mỗi tuần.
Kiểm bốn chỗ trên trước. Chúng chiếm phần lớn trường hợp.
Rồi kiểm tủ lạnh. Vết chảy và hộp cũ.
Rồi kiểm kệ đồ khô. Lọ mốc hoặc gạo có mọt.
Kiểm gầm tủ và sau tủ lạnh. Đồ rơi xuống đó và thối.
Kiểm khay hứng nước dưới tủ lạnh. Nó nằm ngoài tầm mắt.
Kiểm ống thoát nước bồn. Tắc một phần thì nước đọng.
Kiểm bên trong lò vi sóng. Vết bắn khô lại và cháy khét.
Kiểm hộp lọc dầu của máy hút mùi. Dầu bám lâu thì hắc.
Kiểm giẻ lau sàn. Nó hay bị để ẩm trong xô.
Mở cửa sổ cho thông khí. Bếp kín thì mùi tích lại.
Không dùng xịt phòng trong bếp. Hương bám vào thức ăn.
Ghi lại nguồn đã tìm được. Lần sau đi thẳng vào đó.
Bốn chỗ cố định giải thích gần hết. Nếu đã xử lý sọt rác, bồn rửa, khăn lau và thớt mà mùi vẫn còn thì nó gần như luôn nằm ở một chỗ ngoài tầm mắt — gầm tủ, sau tủ lạnh, hay khay hứng nước — chứ không phải ở chỗ đang nấu.