Cách lên thực đơn thường gặp là ngồi nghĩ ra bảy món rồi đi chợ mua đủ nguyên liệu cho bảy món đó. Nó hỏng ở chỗ nguyên liệu không có cùng hạn: món định nấu thứ sáu mà cần rau lá mua từ chủ nhật thì đến thứ sáu rau đã hỏng. Cách ngược lại là xếp bữa theo hạn: thứ nào hỏng trước thì nấu trước. Bài này nói cách làm cụ thể, và cách giữ cho thực đơn không thành cái khung cứng.
Xếp nguyên liệu theo thứ tự hạn
Nhóm hai ngày đi đầu. Rau lá mềm, nấm rơm, giá đỗ, đậu hũ non.
Nhóm ba đến bốn ngày đi thứ hai. Đậu hũ thường, nấm mỡ, rau lá cứng, rau sơ chế.
Nhóm một tuần đi thứ ba. Bắp cải, cà rốt, củ cải, bí xanh.
Nhóm nhiều tuần đi cuối. Khoai, bí đỏ nguyên trái, hành tỏi.
Nhóm không hạn thì đi bất cứ lúc nào. Đậu khô, gạo, mì, nấm khô, đồ hộp.
Viết năm nhóm này ra giấy một lần. Sau đó chỉ việc xếp bữa theo nó.
Bữa đầu tuần dùng nhóm một. Đây là phần bắt buộc, không linh hoạt được.
Bữa giữa tuần dùng nhóm hai và ba. Đây là phần linh hoạt nhất.
Bữa cuối tuần dùng nhóm bốn và năm. Khoai, đậu khô, đồ hộp, nấm khô.
Không để món cần rau lá vào thứ sáu. Đó là lỗi thường gặp nhất.
Hoặc mua rau lá thêm một lượt giữa tuần. Nếu nhất định muốn món đó vào cuối tuần.
Ghi nhóm bên cạnh mỗi bữa. Nhìn là biết bữa đó phụ thuộc thứ gì.
Kiểm lại khi đi chợ về. Nếu sạp không có thứ dự định thì đổi thứ tự luôn.
Thứ tự này là toàn bộ phương pháp. Không cần bảng biểu hay ứng dụng nào: chỉ cần biết thứ gì hỏng trước và xếp nó vào bữa sớm hơn, và riêng việc đó đã cắt phần lớn lượng đồ phải bỏ mỗi tuần.
Viết thực đơn ở mức vừa đủ chi tiết
Ghi món chính chứ đừng ghi cả mâm. Ghi quá chi tiết thì không ai theo nổi.
Một dòng cho mỗi bữa là đủ. Tên món và nguyên liệu chính.
Để trống một hai bữa. Tuần nào cũng có bữa ăn ngoài hay bữa bất ngờ.
Ghi bữa dự phòng ở cuối tờ. Món từ đồ khô để dùng khi kế hoạch đổi.
Dán tờ giấy lên cửa tủ. Chỗ đó được nhìn nhiều lần mỗi ngày.
Dùng bút chì hoặc bút xóa được. Thực đơn sẽ đổi, và đổi được là điểm mạnh.
Gạch bữa đã nấu. Thấy tiến độ thì dễ theo hơn.
Ghi cả người nấu nếu nhà chia việc. Tránh cảnh cả nhà tưởng người khác nấu.
Không ghi thực đơn cho quá một tuần. Xa hơn một tuần thì dự đoán không còn đúng.
Giữ tờ tuần trước để tham khảo. Nó cho biết món nào cả nhà thích.
Ghi món mới muốn thử ở góc tờ. Có chỗ ghi thì mới thật sự thử.
Ghi luôn phần nền cần nấu. Nước dùng, đậu luộc, sốt nào.
Ghi ngày đi chợ lên tờ. Nhịp mua và nhịp nấu phải khớp nhau.
Tờ giấy một mặt là đủ cho cả tuần. Nếu thực đơn tràn sang mặt sau thì nó đã quá chi tiết và sẽ bị bỏ sau vài tuần, còn một mặt giấy viết thưa thì giữ được lâu.
Giữ thực đơn còn linh hoạt
Coi thực đơn là thứ tự chứ là lịch. Bữa nào trước bữa nào sau, không phải ngày nào ăn gì.
Đổi chỗ hai bữa thì không sao. Miễn là giữ được thứ tự theo hạn.
Không đổi bữa nhóm một xuống cuối tuần. Đó là chỗ duy nhất không nên đổi.
Có bữa ăn ngoài thì đẩy lùi cả chuỗi. Nhưng kiểm lại xem nhóm một có chờ được không.
Nếu không chờ được thì nấu và trữ. Nấu rồi trữ tốt hơn để nguyên liệu hỏng.
Giữ hai bữa dự phòng trong ngăn đá. Đó là chỗ hấp thu mọi thay đổi.
Giữ một bữa từ đồ khô. Mì với sốt hay cháo đậu là bữa không cần chuẩn bị.
Không cố nấu món đã ghi nếu thiếu nguyên liệu. Đổi món dễ hơn là chạy đi mua.
Học một hai món linh hoạt. Món nhận được nhiều loại rau khác nhau.
Cơm rang và mì xào là hai món như vậy. Chúng nhận gần như mọi thứ còn trong tủ.
Canh cũng rất linh hoạt. Nước dùng cộng bất cứ rau nào còn lại.
Ghi lại lần nào phải đổi kế hoạch. Đổi nhiều thì thực đơn đang quá cứng.
Xem lại cách viết sau một tháng. Điều chỉnh mức chi tiết cho phù hợp.
Linh hoạt là điều kiện để thực đơn tồn tại. Thực đơn cứng bị bỏ ngay tuần thứ hai vì cuộc sống không chạy theo kế hoạch, còn thực đơn là một thứ tự có chỗ trống thì chịu được thay đổi và giữ được nhiều tháng.
Nối thực đơn với việc đi chợ
Đi chợ sau khi viết thực đơn. Ngược lại thì mua theo cảm giác.
Nhưng xem tủ trước khi viết. Thực đơn nên bắt đầu từ thứ đang có.
Chụp ảnh tủ và kệ. Nhìn ảnh ở chợ tránh mua trùng.
Viết danh sách chợ theo nhóm sạp. Rau một nhóm, đậu hũ một nhóm, đồ khô một nhóm.
Ghi số lượng chứ đừng ghi tên suông. Hai bó rau muống, một bìa đậu.
Tính lượng theo số phần. Biết nấu bao nhiêu bữa thì biết mua bao nhiêu.
Chia làm hai lượt nếu mua rau lá nhiều. Lượt đầu tuần và lượt giữa tuần.
Mua nhóm bốn và năm một lần một tháng. Khoai, đậu khô, đồ hộp không cần mua hằng tuần.
Không mua thêm ngoài danh sách. Trừ khi thấy thứ rẻ mà biết chắc sẽ nấu.
Ghi thứ sạp không có. Để điều chỉnh thực đơn ngay tại chỗ.
Về nhà là sơ chế ngay. Nửa tiếng đầu quyết định hạn của cả tuần.
Gạch danh sách khi đã xếp vào tủ. Biết đã có đủ thứ cho thực đơn.
Ghi lại tổng chi mỗi tuần. Sau một tháng là thấy nhịp mua nào hợp nhà mình.
Thực đơn và danh sách chợ là một cặp. Có thực đơn mà mua theo cảm giác thì vẫn thừa thiếu như cũ, còn danh sách chợ viết từ thực đơn thì lượng mua khớp lượng nấu và gần như không còn gì phải bỏ.
Điều chỉnh sau mỗi tháng
Đếm số bữa thật đã nấu theo thực đơn. Con số đó cho biết thực đơn có dùng được không.
Ghi món nào cả nhà không ăn hết. Bỏ món đó khỏi vòng xoay.
Ghi món nào ai cũng thích. Đưa nó vào vòng xoay thường xuyên hơn.
Tính số lần phải đổi kế hoạch. Đổi nhiều thì để trống nhiều hơn.
Đếm thứ đã phải bỏ. Danh sách đó là bài học cụ thể nhất.
Điều chỉnh lượng mua theo đó. Bỏ hai tuần liền cùng một thứ thì mua ít hơn.
Xây một vòng xoay mười món. Mười món quen thì không phải nghĩ mới mỗi tuần.
Thêm một món mới mỗi tháng. Đủ để không chán mà không quá tải.
Bỏ một món cũ khi thêm món mới. Giữ vòng xoay ở mức quản được.
Ghi công thức món quen ra giấy. Để người khác trong nhà nấu được.
Xem lại cả nhịp mua. Có thể cần hai lượt chợ thay vì một.
Tính lại chi phí mỗi bữa. Nó cho thấy cách này có tiết kiệm thật không.
Hỏi ý người trong nhà. Thực đơn cho cả nhà thì nên có ý của cả nhà.
Một tháng là đủ để chốt nhịp. Sau bốn tuần là biết nhà mình cần mấy lượt chợ, mấy bữa để trống, và mười món nào nên nằm trong vòng xoay — sau đó việc lên thực đơn chỉ còn mất năm phút mỗi tuần.